Thứ Hai, 28 tháng 7, 2014

Nền giáo dục cấm đoán - Phần 2

Việc chúng ta cần làm, để có một nền giáo dục tốt, giống như bắt đầu lại từ đầu, từ một con số 0. Maria Montessori từng nói:
“Đừng học tôi, học trẻ con ấy.”
Nhưng người lớn dường như không theo kịp lũ trẻ, cũng chẳng chịu quan sát chúng. Anh ta thật sự chẳng hiểu gì về lũ trẻ cả, chẳng biết gì sất. Ngược lại, anh ta biết nhiều lý thuyết lắm. Điều đó có nghĩa là, người lớn tỏ vẻ như biết trẻ con cần gì, nhưng thực tế, anh ta lại hoàn toàn mù tịt. Nói cách khác, cốt lõi của giáo dục phải là chính TRẺ EM. Vì thế, nếu là giáo dục thực chất, thì nên được lấy cơ sở là trẻ nhỏ, chứ không phải là từ nhu cầu của người lớn.
Trẻ con được sinh ra với tiềm năng để sáng tạo, chúng cực kỳ sáng tạo, tò mò và ham quan sát. Và ở trường thì có hai điều có thể xảy ra: Hoặc là chúng ta phải theo dõi quá trình phát triển này và đưa ra các hoạt động nhằm kích thích các tiềm năng của trẻ, hoặc là ép buộc chúng theo khuôn khổ. Thực tế, chúng ta có thể nói rằng, bản chất của con người là luôn học hỏi. Hãy nhìn mà xem. Trẻ con liên tục hỏi bạn: “Tại sao lại thế này? Tại sao lại thế kia?” Không phải là bạn bắt chúng hỏi, mà tò mò và khám phá chính là bản chất của trẻ. Bọn trẻ có tất cả những gì cần thiết: Các giác quan, khả năng đánh giá và mô phỏng. Chúng có bộ não, có thể suy nghĩ, lý luận, tưởng tượng, sáng tạo và mơ mộng. Nhưng tất cả những gì trường học làm đối với bọn trẻ là: Trật tự, im lặng… Chúng bịt miệng tụi trẻ lại.
Vì thể, nếu bạn chịu để ý bạn sẽ thấy rằng, khi lớn lên, chúng bắt đầu mất hẳn sự tò mò và sự hứng thú với học tập. Một đứa trẻ 12 tuổi sẽ cực ít đọc sách sau giờ học, rất ít đứa làm thế. Vì sao? Bởi vì chúng phát chán với việc bị sai bảo nên làm cái này, không nên làm cái kia và vì chúng mất hết sạch sự hứng thú với việc học. Tâm trí của trẻ nhỏ với đầy đủ các phẩm chất cho việc học hỏi, và vượt xa khả năng ấy của người lớn. Bởi vì chúng tò mò và hứng thú một cách tự nhiên với bất cứ điều gì hiện ra trước mắt. Và đấy là cách tâm trí sáng tạo và phát triển chính nó.
Trong một vài năm, một đứa trẻ học cách kiểm soát cơ thể, có khả năng giao tiếp bằng nhiều ngôn ngữ, dấu hiệu, thấu hiểu các luật lệ của tự nhiên và các đặc điểm của văn hóa. Tất cả quá trình phức tạp và vô cùng kỳ diệu ấy diễn ra một cách vô thức. Chúng học tất cả những điều này một mình và tốn rất ít công sức.
Từ khi sinh ra, chúng đã có đủ khả năng để xây dựng và định hướng cho mình, học hỏi từ mọi thứ xung quanh, vừa chơi vừa khám phá thế giới. Khi một đứa trẻ ra đời, cơ chế sinh học không phải gò ép, buộc chúng phải trở thành người, điều chúng cần là một môi trường có tính nhân văn. Tất cả những gì xung quanh chúng đóng vai trò định hướng trong quá trình học: Những lúc gia đình quây quần bên nhau, khi mọi người đối xử với nhau… mọi thứ là một phần của môi trường, mà qua đó chúng phát triển chính mình.
Chúng ta cần đem lại loại môi trường như thế nào cho trẻ nhỏ để chúng phát triển một cách hoàn thiện nhất? Nếu chúng ta có một gia đình mà trong đó, tình thương không được biểu hiện chút nào, thì đứa trẻ dễ dàng nhiễm tính hung hăng. Không hoàn toàn, nhưng ý tôi là, trong một môi trường bạo lực, thì bạo lực sẽ dễ dàng sản sinh.
Các nghiên cứu chỉ ra rằng, ngày nay, từ lúc 5 tuổi, 98% trẻ nhỏ phải được xem như là các thiên tài. Chúng tò mò, sáng tạo và có khả năng suy nghĩ theo nhiều hướng và tiềm năng giải quyết các vấn đề là cực lớn. Hay nói đơn giản, chúng có một tâm trí cực kỳ rộng mở. Vấn đề là đến năm 15 tuổi, chỉ 10% trẻ nhỏ là còn giữ được những khả năng ấy. Trong thế giới các sinh vật có ý thức có thể nói rằng, chúng ta hoàn toàn là những thiên tài. Và thật sự, điều mà các thầy cô cần phải biết, là học sinh của họ cần phải được tự do với toàn bộ tâm trí, để cho phép tất cả kiến thức, sự sáng tạo và các tiềm năng… mà chúng có bên trong, được bộc lộ ra ngoài.
Là con người, chúng ra là sản phẩm của hàng ngàn tiến hóa và chọn lọc tự nhiên. Chúng ta mang trong mình tất cả các phẩm chất để tồn tại, thay đổi chính mình và trưởng thành. Từ ham muốn được ăn khi đói, tới sự tò mò từ bên trong để khám phá thế giới. Tiềm năng này ngày nay đang đợi chúng ta cho phép để có thể bộc lộ. Hãy nhìn cách mà trẻ con nô đùa, thật tự nhiên và sinh động làm sao, tới những thiếu niên ngày nay, qua sự nổi loạn của chúng và nhu cầu muốn thay đổi thực tại. Tại sao chúng ta cứ khăng khăng triệt tiêu sự tự nhiên của chúng và trừng phạt sự nổi loạn này, trong khi những hẩm chất này đơn giản là cho chúng ta thấy rằng chúng phải được phát triển bản thể, và đáp ứng những nhu cầu bên trong tự nhiên của chúng.
Trẻ nhỏ có một người thầy bên trong, đặc biệt là những năm tháng đầu đời, khiến chúng học hỏi, tò mò và di chuyển, thúc đẩy chúng tham gia, làm việc và tái diễn các hành vi. Và chính những lực ấy giúp chúng quyết định khi nào thì dừng làm việc gì, bởi vì chúng đã hiểu hết về nó. Quan sát cách những đứa trẻ hành động, chúng tôi khám phá ra rằng, chúng sử dụng tất cả những phẩm chất của một nhà nghiên cứu cự phách, giống hệt những thiên tài. Rất tự nhiên, với tất cả các cấp độ phức tạp, phải không nào?
Không một đứa trẻ nào lại không quan sát, không một cậu bé nào lại không khám phá và thử nghiệm. Câu hỏi là chúng ta phải làm gì để kích thích chúng sáng tạo? Câu trả lời là chẳng phải làm gì cả, chúng vốn là như thế rồi. Tất cả những gì chúng ta phải làm là đem lại cho chúng các cơ hội để bộc lộ sự sáng tạo, bằng nhiều cách khác nhau. Nếu chúng được phép như vậy, nay mai thôi chúng sẽ là những nhà khoa học, những nghệ sỹ. Hãy cho chúng được là chính mình.
Thầy giáo nói với cô hiệu trưởng: “Bọn trẻ đang hoài nghi hệ thống giáo dục với điểm số, chúng cho rằng chúng ta chỉ quan tâm tới điểm mà không cần biết chúng tiếp thu được gì.” “Anh cũng cho là tụi nó đúng sao?” “Tôi chỉ không nghĩ là tụi nó hoàn toàn sai, có những điều chưa đúng lắm về cách giáo dục của ta?” “Vậy anh không nghĩ tất cả trở nên như vậy là do xã hội này sao? Còn ở trong xã hội này thì việc tốt nhất cho chúng là đến trường, và đi học”…
“Thưa cô, như cô yêu cầu, đây là toàn bộ những gì em được học trong 5 năm qua tại trường. Và cô biết sao không? Em sẽ quên hết. Thực tế mà nói thì, em đã quên hết rồi…”
“Micaela, hãy cho tôi biết tại sao em nhất quyết với bài phát biểu đó? “Bởi vì đó thực sự là những gì em nghĩ, em chỉ muốn bộc lộ suy nghĩ của mình, e muốn thế.” “Ôi em yêu, ai cũng thích làm những gì mình cảm thấy hứng thú và chúng ta đôi khi phải làm những điều mình không thích.” “Không, em xin lỗi, nhưng em không đồng ý như thế” “Ok, tôi hiểu em nhưng…” “Nghe này Micaela, em có muốn tốt nghiệp không? có bằng, có một cái nghề và trở thành một ai đó?” “Em vốn là một ai đó rồi thưa thầy.”

“Học không có nghĩa là nuốt chửng đủ loại ý tưởng, mà là sáng tạo và tái tạo lại chúng” – Paulo Freire
Cách mà giáo dục hiện nay vận hành, là nhồi nhét thêm các thông tin mà ta tin rằng chúng cần thiết. Tôi tự hỏi mình rằng: Chúng ta nhớ được bao nhiêu thứ từ trường học phổ thông? Với cách mà họ dạy và giảng, chẳng ai thấy hứng thú cả. Khi họ đọc gì đó và bắt tối phải đọc theo, tôi không nghĩ mình học được gì, tôi chỉ thấy mình là một kẻ bắt chước. Tất cả những gì mà chúng ta được học từ trường lớp, hết ngày nọ đến ngày kia, đều sẽ chìm dần vào lãng quên, nếu nó không phải là lựa chọn và quyết định của chính ta.
Trẻ con không phải là những con robot chỉ đơn giản là copy và nhắc lại. Thực sự bản thân chúng sẽ có ý thức về những gì mình làm. Những ý tưởng tới, trẻ con tiếp thu chúng, theo một cách nào đó qua trải nghiệm của chính mình. Nếu quá trình học hỏi không tạo được hứng thú, thì nó không phải là học thật sự. Và trên hết, thiên tài mà mỗi đứa trẻ mang trong mình sẽ không thể tự bộc lộ. Học hỏi thực sự chỉ có thể sinh ra từ sự thích thú, ý chí và cả sự tò mò và nguồn gốc của nó lại bắt nguồn từ những thứ vượt xa mọi lý thuyết. Nó rộng hơn mọi phân tích và các hình dung liên quan. Học hỏi là một quá trình sâu, nơi mà các mối quan hệ giữa con người và môi trường xung quanh được thiết lập.
Một trái bóng tự tay mình làm là trái bóng “được”, một trái bóng vay mượn là trái bóng “mất”. Những gì chúng ta học được, chúng ta thu được qua việc làm. Chúng ta học bằng cách khám phá những điều tự nhiên, tìm kiếm, tìm tòi, thí nghiệm. Khi trong sự liên kết với tự nhiên, một đứa trẻ có thể làm bất cứ thứ gì. Như vậy, công việc của một nhà giáo dục là gợi mở các bí ẩn, tạo ra các hoàn cảnh trong tự nhiên, để mặc dù đã được mô tả bởi khóa học nhưng phải để học sinh tự giải thích. Bằng cách đó, học sinh sẽ rất ngạc nhiên và sẽ cố gắng để tự tìm ra đáp án cho riêng mình. Trong nhiều thập kỷ, đã có một mô hình trường học tên là “trường học động”, ở đó trẻ nhỏ bộc lộ, hành động và sáng tạo xa rời hẳn bàn ghế. Nhưng đấy không phải là điều gì mới cả, nó đã được Piaget nói tới từ thập niên 50, đơn giản là không được đem vào áp dụng, chỉ vì sự lười nhác.
Trong những năm đầu của thế kỷ 20, nhiều phương pháp sư phạm mới xuất hiện, đúc rút ừ nhiều lĩnh vực khoa học phát triển mà trọng tâm là hành động và thử nghiệm, tự do và cơ chế tự thân vận động của quá trình học, đổi mới tư duy toàn bộ cơ cấu của trường học. Nhưng đến giữa thế kỷ 20, tất cả những ý tưởng đột phá đó bắt đầu chìm dần vào quên lãng, bởi vì sự sợ hãi của các thể chế Chuyên Quyền. Vâng, các phương pháp ấy tập trung vào việc coi trẻ nhỏ là người học chính, một cách toàn diện. Một cách tự nhiên, phải có các vật dụng thực tế, cầm nắm được để trẻ có thể sử dụng và thí nghiệm.
Mọi thứ trong trường tiểu học đều có thể được thực tế hóa, mọi vật dụng đều là những thứ có thể lắp ghép và thí nghiệm. Cứ như vậy, tự trẻ nhận ra là nếu nó làm sai, thì vật dụng ấy sẽ bộc lộ và tự sửa lại. Thường thì, người lớn không nên đứng ra để sửa cho trẻ, mà phải để chính đứa trẻ tự sửa sai. Ngày nay, chúng ta có thể thấy trẻ con tự sửa sai cho nhau. Tôi tin rằng, đứng từ quan điểm giáo dục, thì lỗi và sai sót phải được đón nhận, như thực tế khoa học có nhiều sai lầm và lỗi hơn là các câu trả lời đúng. Bình thường chúng ta cho rằng mình đang tiến lên, khi chúng ta thành công, nhưng thực ra, chính sai sót mới là tiền đề để khoa học tiến triển.
Chúng ta nên nói với trẻ rằng: Chẳng quan trọng nếu em mắc lỗi hay sai sót, vì em đang học, bởi vì chẳng có ai là kẻ thắng cuộc ở đây cả, tất cả chúng ta ở đây là để học hỏi.
Edison khi phát minh ra bóng đèn điện đã thử nghiệm và sai sót hàng ngàn lần trước khi thành công. Khi một nhà báo hỏi ông ấy là cảm thấy thế nào khi sai sót cả hàng ngàn lần, ông đơn giản đáp lại: “Tôi chẳng vấp ngã cả ngàn lần, nhưng bóng đèn điện là một sáng chế tốn hàng ngàn bước.” Cũng giống như các khám phá khoa học, giáo dục bất quy tắc là kết quả của một quá trình đầy biến động, mà ở đó một người tìm kiếm các giải pháp thay thế, các quy tắc logic và nhân quả giữa hỗn độn và quy luật. Nhưng phương pháp học này được sinh ra từ thắc mắc khi đối mặt với những hỗn độn, chứ không phải từ một câu trả lời theo quy tắc có sẵn.
Khi chúng ta sinh ra, xã hội này khiến chúng ta ngu dốt vì chúng đem tới toàn là những câu trả lời. Nó cho chúng ta những câu trả lời được thêu dệt sẵn, từ triết học, chính trị, thậm chí là tôn giáo. Vì thế, nó hủy diệt sự hoài nghi và khả năng học hỏi. Trường học cũng vậy, nó toàn cho chúng ta câu trả lời, trong khi thực chất của giáo dục thì nó phải khiến cho chúng ta hoài nghi và tìm tòi. Một nhà giáo cần làm gì? Anh ta cần giúp sức để khơi gợi tìm tòi, chứ không phải là áp đặt một câu trả lời.
Tầm quan trọng của việc hoài nghi và đặt câu hỏi đã tồn tại từ thời Hy Lạp cổ đại, nơi khai sinh Triết học, ở đó, việc học nổi lên từ thay đổi tư duy và trao đổi lẫn nhau. Nhưng nếu đó là bản chất của việc học, thì tại sao chúng ta lại cứ khăng khăng việc áp đặt, giới hạn, quy ước và phân loại chúng? Vì thế, thời gian ở trường, hóa ra lại là thời gian đánh lạc hướng, và ép buộc chúng ta tin vào một chương trình định sẵn. ý tưởng rằng học sinh phải tiến triển, tuân theo cách mà chương trình học đã đề ra trước.
Thường thì, mục tiêu giáo dục trong thế giới hiện nay là chẳng đếm xỉa gì tới học sinh và trẻ nhỏ. Dần dần, lũ trẻ tin rằng việc học là để đáp ứng các lực tác động bên ngoài, chứ không phải nội tâm. Chẳng hạn, tôi phải học để qua kỳ thi, để cạnh tranh tìm việc…
Nếu ta không khuấy động sự thích thú, nếu ta không kích thích sự sáng tạo của trẻ. Ta đang tạo ra các robot với những mục tiêu, và vì thế, thường là 60-70% trẻ em với tiềm năng tuyệt vời bên trong sẽ rơi rụng phía sau. Rồi khi chúng ta lớn lên, nhà trường và xã hội lèo lái chúng ta tới những mục tiêu và động cơ bên ngoài, và chúng ta chẳng thể hiểu nổi là một người có thể làm điều gì đó mà không quan tâm tới lợi lộc thu lại, tất cả chẳng qua là từ nội tâm. Nhưng nếu trẻ nhỏ chẳng hướng tới điều gì cụ thể, nó chỉ đơn giản là tận hưởng việc trưởng thành, nó chỉ bước đi vì sự vui thích của việc đi bách bộ và khám phá, và đó lại chính là điều đem lại sự phát triển cho chúng. Giáo viên không nên là ngôi sao sân khấu, họ chỉ nên là người hướng dẫn, kiểu cầu nối, họ có liên kết nào đó với kiến thức, và tự kiến thức sẽ tạo ra sức hút, tự vận hành theo cách của từng học sinh. Chẳng một áp lức nào buộc trẻ phả đặt được mục tiêu trong một quãng thời gian cụ thể.
Cơ bản, có hai phương thức, một là phải rèn trẻ theo văn hóa, hai là phải thay đổi văn hóa để thích nghi với trẻ. Nói cách khác, một là đi theo lề trái hoặc phải, đơn giản chỉ vậy, nhưng nơi nào đó ở giữa, mới là sự thật. Trường học hiện nay được xây dựng trên nền tảng là ý tưởng cơ bản, bao trùm toàn bộ cơ cấu: Ý niệm rằng trẻ nhỏ như một tờ giấy trắng và hệ quả, là tính cá nhân của nó có thể bị tháo rời và lắp ghép lại, bóp méo tùy theo nhu cầu ngoại cảnh. Đứa trẻ được xem như một đối tượng để nghiên cứu, một con chuột bạch, bên trong một phòng thí nghiệm, một quá trình xã hội hóa, trong suốt lịch sử, mà mục tiêu chính là định hướng, tạo ra một con người khác.
Đây hẳn rất là nhân bản, hay không phải vậy, khi tin rằng rừng cây sẽ bị hại nếu chúng ta không chăm sóc chúng? Không, cứ để mặc chúng là đủ, luôn luôn là vậy. Và tất cả rừng cây chúng ta bỏ mặc vẫn sẽ tồn tại bởi vì con người không can thiệp vào. Một hạt giống ẩn chứa trong mình tất cả những thông tin cần thiết để một sinh linh phát triển, môi trường xung quanh có tất cả những gì cần thiết để cái cây lớn lên, nhưng cách chúng phát triển phụ thuộc vào cơ cấu bên trong hạt giống, mọi phản ứng với điều kiện bên ngoài đều đã được định sẵn bên trong mọi sinh vật sống, dù đó là một cái cây, hay một con người.
Và sự hình thành các nội tạng quan trọng, xương và các cơ tủy… là kết quả của một quá trình nội sinh và độc lập, chẳng đòi hỏi bất kỳ sự can thiệp nào của con người, mà ở đó, người mẹ chỉ đơn thuần là cung cấp những tài nguyên cơ bản chứ không đóng vai trò xây dựng. Chúng ta không phải làm gì, chỉ cần đảm bảo rằng nó được cung cấp những gì nó cần. Và tình yêu thương là một trong những thứ quan trọng nhất. Trong thời gian thai nghén, tình yêu đem lại người bạn đồng hành và sự bảo vệ trong môi trường tử cung, sau đó, là sự đụng chạm về thể xác, hỗ trợ về mặt cảm xúc, bộc lộ, cử chỉ, âm thanh, thậm chí là sự thấu hiểu, chấp nhận, tôn trọng và tin tưởng vào người khác. Nếu tình yêu là sự sống còn cho việc phát triển và học hỏi, tại sao chúng ta lại cố gắng giáo dục bằng đe dọa, hình phạt, áp lực và quên hết về tình yêu thương?

Phi Tuyết

Nguồn: http://www.triethocduongpho.com/2014/07/23/nen-giao-duc-cam-doanphan-2-hay-giao-duc-con-tre-theo-nhu-cau-cua-chung-chu-dung-theo-nhu-cau-cua-nguoi-lon/#disqus_thread

Nền giáo dục cấm đoán - phần 1

Đây là một bộ phim tài liệu nghị luận xã hội của nước ngoài, nói về thực trạng và giá trị của nền giáo dục hiện nay, những góc khuất và bất cập, không chỉ tại Việt Nam mà là trên toàn thế giới. Tập phim dài hơn 2 tiếng với rất nhiều những quan điểm mới lạ và thú vị. Những quan điểm này có thể trái ngược với những gì bạn từng biết và từng tin, thậm chí nó có thể là nguyên nhân cho những cuộc khẩu chiến về quan điểm cho những ai quan tâm. Nên, hãy cân nhắc trước khi đọc bài và chuẩn bị tinh thần cho những cảm xúc tồi tệ, nghi ngờ, thất vọng, hoang mang… bạn có thể gặp phải.
Bạn có thể ngờ được không với những tuyên bố: “Trường học chính là rào cản lớn nhất được tạo ra trong xã hội, là mô hình nhồi sọ biến chúng ta thành những kẻ biết vâng lời và không phản kháng, thực tế thực trạng của giáo dục hoàn toàn đi ngược lại những lý tưởng cao đẹp mà nó đề ra…” Thật quá đỗi hay ho và hấp dẫn. Sau đây để tiện cho các bạn theo dõi, mình sẽ viết lại toàn bộ phần sub vì bộ phim khá dài. Việc đọc cũng dễ giúp bạn hiểu hết nội dung và tiết kiệm rất nhiều thời gian. Ai hứng thú với chủ đề này hay muốn xem lại tập phim thì sẽ có link ở cuối bài.
Bộ phim là thành quả tổng hợp từ một quá trình học hỏi không ngừng. Những cá nhân phát biểu trong phim chia sẻ với chúng ta rất nhiều ý kiến và quan điểm, sự tham gia của họ không có nghĩa là họ đồng ý với tất cả các quan điểm mà bộ phim truyền tải. (Người dịch phim Dariya Nguyễn). Khuyến khích chia sẻ thông tin trên phim này!

Phần 1: Mô hình giáo dục nhà tù và nhồi sọ – Trường học ra đời như thế nào?

Thân gửi tới tất cả các em nhỏ và người lớn thực sự mong muốn trưởng thành trong tự do. Tôi vẫn nhớ một câu chuyện triết học mà thầy giáo kể: Một nhóm nô lệ được sinh ra và lớn lên trong hang tối, họ bị trói quay mặt vào tường và tất cả những gì họ thấy là những cái bóng phản chiếu trên tường. Những người cai ngục đốt đuốc phía sau và cố tình tạo ra rất nhiều những cái bóng. Những cái bóng đó là toàn bộ những gì họ được biết về thế giới bên ngoài. Những cái bóng chính là thế giới của họ, hiện thực của họ. Một ngày kia, một trong số họ được thả tự do và được phép đi ra thế giới bên ngoài. Tôi tự hỏi anh ta mất bao nhiêu thời gian mới làm quen được với ánh sáng rực rỡ khi phần lớn thời gian chỉ sống trong tăm tối. Rất có thể, phản ứng của anh ta là sự sợ hãi khủng khiếp về cái thế giới rực rỡ ấy. Liệu anh ta có thể hiểu thế nào là một cái cây, biển cả và mặt trời? Giờ hãy giả thiết rằng anh ta nhìn vào hiện thực và phát hiện ra rằng những gì trong hang chỉ là sự giả dối tột cùng… Tôi không nghi ngờ rằng, anh ta sẽ có một ham muốn lớn lao là được quay trở lại hang, để kể cho những người khác nghe về những gì anh chứng kiến, một hiện thực hoàn toàn khác, một thế giới khác…

Nền giáo dục cấm đoán

Truyền thông, hàng ngàn cuốn sách, và những tuyên bố của những người chức quyền, các tổ chức quốc tế, chuyên gia, triết gia, các trang web… Đều nhất trí khẳng định về tầm quan trọng của giáo dục. Họ đầu tư cả đống tiền bạc để đào tạo, cải cách và nghiên cứu. Họ in sách, tài liệu, thậm chí đưa cả máy móc hiện đại vào nhà trường. Họ tạo ra các chương trình dạy và học, tăng lương rồi giảm lương, áp dụng đủ loại mô hình dạy học khác nhau. Tất cả, với danh nghĩa, cải tiến giáo dục. Những điều đó không ngăn cản được thực tế rằng: Bao nhiêu trường học, là bấy nhiêu rào cản được tạo ra trong xã hội. Các loại trường chuyên, trường cho người nghèo, trường cho dân tộc thiểu số, cho thợ, cho chuyên gia, cho các tầng lớp trung lưu, trường công và tư, trường cho nhà giàu và các tầng lớp quý tộc… Mục tiêu là gom cho càng được nhiều học sinh càng tốt. Phần lớn là để tạo ra những công nhân phục vụ cho xã hội với các thứ hạng được định sẵn, và chỉ rất hiếm hoi là chú trọng tới thực chất của giáo dục.
Dẫu có khác biệt, thì tất cả các trường học hiện nay trên thế giới là nhằm tạo ra một mô hình nhồi sọ tối ưu. Làm sao mà những ý tưởng ấy lại giúp phát triển trí tuệ cá nhân và nhân loại nói chung được? Và liệu rằng luận thuyết về giáo dục hiện nay đã và đang tồn tại đến nay có thể giúp cải thiện cuộc sống của tất cả mọi người và đóng góp cho một thế giới tốt đẹp hơn? Liệu có tồn tại một cách dạy và học khác đạt được những tiêu chí đó? Liệu có thể tạo ra trường học mà tránh được tất cả những lý tưởng, tiêu chuẩn và định kiến? Thắc mắc đó đã dẫn chúng tôi tới một thế giới mới mà hoàn toàn chưa hề được biết tới. Bộ phim này là một phần của quá trình vô tận, một câu hỏi có thể là không có câu trả lời hoàn chỉnh và chính xác, cuộc tìm kiếm tới bản chất của giáo dục và việc học, những sai lầm mà chúng ta mắc phải, và trên hết, những ý kiến sẽ trợ giúp chúng ta tiếp tục tìm kiếm và tiếp tục học hỏi.
Một thầy giáo yêu cầu hai học sinh viết một bài luận về những gì các em thu được sau từng ấy năm đi học. Và kết quả họ bị thầy giáo gọi ra nói chuyện và bị cô hiệu trưởng đến kiểm tra, bài luận có những câu: “Chúng em thấy rất ít thứ quan trọng được học ở trường. Các thầy cô chỉ dạy chúng em phải dè chừng nhau và háo thắng. Bố mẹ và thầy cô, chẳng ai lắng nghe chúng em nói. Đấy là lý do vì sao chúng em muốn nói rằng: Thế là quá đủ rồi. Giáo dục chỉ là một sự cấm đoán mà thôi….” Thầy giáo giải thích với cô hiệu trưởng: “Thực ra là hai em ấy có nói với tôi rằng hai em ấy nảy ra ý tưởng đọc bài luận này tại Buổi Diễn Toàn Trường. Tất nhiên, đây chỉ là bản nháp thôi.”
“Ồ không đâu, đó không phải nháp, tụi em sẽ đọc chính xác như thế đấy.” Cô hiệu trưởng ngắt lời: “Không, không thể được, đó toàn là những từ ngữ hỗn xược xấc láo, các em không thể công kích chúng tôi theo cách lố lăng như vậy.” “Nếu cô cảm thấy bị xúc phạm, thì hẳn phải có lý do chứ ạ?” “Thưa thầy, chúng em chỉ đơn giản là viết bài luận mà thầy giao đề.” “Vậy nên tôi mới nói đó là bản nháp, các em cần uốn nắn lại từ ngữ.” “Không, sẽ không uốn nắn chỉnh sửa gì hết, chúng em sẽ đọc đúng như vậy.” “Không được, như thế là bất kính.” “Xin lỗi cô, em quên mất việc nói ra những gì mình thực sự nghĩ là bất kính…”
“Nghe này, những gì các em nói có thể làm phật lòng nhiều người.” “OK, nhưng nếu đó là những gì chúng em cảm thấy và viết ra như vậy, tại sao lại không thể cho họ biết chứ? tại sao không chứ? Đấy thật sự là những gì chúng em nghĩ thì có vấn đề gì nào? Chúng em sẽ chịu trách nhiệm những gì mình nói.” “Không, không hãy đợi đã, vì tôi hiểu em, cái gì ở trường cũng khiến em thất vọng, tôi làm em thất vọng, các thầy cô làm em thất vọng. Thầy hiểu em quá rõ.” “Không thầy chẳng hiểu gì em cả.” “Thầy hiểu thật đấy.” “Không, thầy không hề.”
Albert Einstein từng nói:
“Nếu bạn muốn tìm ra một kết quả khác, thì đừng lặp đi lặp lại một cách làm, hết lần này tới lần khác.”
“Rất nhiều học sinh sau 12 năm đèn sách vẫn không thể đọc viết thông thạo (sai chính tả), họ không giải được phương trình, không nhớ những gì họ từng tiếp thu (rõ ràng). Vâng, thực tế là họ học được rất ít từ trường học. Vậy lý do vì sao phần lớn học sinh học rồi mà dốt vẫn hoàn dốt? Đấy là bằng chứng chắc chắn rằng lỗi không phải do học sinh, mà là do hệ thống giáo dục rồi.” “Thực tế là ngày nay việc giáo dục được cải tiến rộng rãi, nhưng lại vẫn áp dụng những cách tiếp cận hoàn toàn sai, chỉ toàn là chắp vá chỗ nọ chỗ kia, rồi làm ra vẻ như là chúng đem lại cải tiến thực chất. Vấn đề nằm ở chính luận điểm và quan niệm cơ bản về giáo dục. Cái sai nằm ở chính cách nhìn nhận vấn đề.”
“Các bậc từ tiểu học đến cấp ba ở các nước Mỹ Latinh (Vâng, và cả Việt Nam nữa) chẳng là gì ngoài những cái cũi tẻ nhạt và chán ngắt. Tôi thường mời mọi người tới và tham quan các trường học để thấy được rằng cần phải đập hết những khuôn mẫu. Và cho họ thấy hình ảnh các thầy cô, đứng cạnh bảng đen, chẳng làm gì ngoài nói, nói, nói… trong khi chúng ta đã đi hết một nửa thế kỷ 21. Thật là lố bịch và vô nghĩa.”
“Các môn học mà chủ đề đều khép kín, thụ động, chẳng có gì gợi mở và hấp dẫn, những môn học chỉ toàn chữ, chữ và chữ. Các nhà cải cách chẳng hề tìm hiểu, nói chung là chẳng có gì cải tiến ngoài chương trình học. Họ quá chú trọng vào nội dung, dạy một vài kỹ năng, trong một số lĩnh vực nhất định. Ngày nay kiến thức bị sai lệch bởi vì cách nhìn nhận của chúng ta sai lệch. Thậm chí, chúng tôi có thể nói rằng trong trường học hiện nay, việc học hỏi thực sự đang bị cản trở.
Các kiến thức ta được học chẳng bền mà cũng chẳng thịnh hành được lâu. Vì ngày nay các học thuyết thay đổi rất nhanh. Kiến thức đổi mới và thay thế thường xuyên, trong khi nền giáo dục luôn dậm chân tại chỗ. Xã hội thì thay đổi chóng mặt. Đây chính là gốc rễ của vấn đề. Các nhà giáo dục tại các trường cao đằng đại học cho rằng kết quả của việc học là có thể đo được, định lượng và quan sát được. Cho nên chúng ta bắt đầu tìm kiếm phương pháp để đo lường thứ được cho là kết quả, là mục đích của việc học. Và đó là thứ chúng ta gọi là điểm số, dù ở dạng A hay B, các con số bậc điểm hay dạng mặt cười, mặt mếu… Nhưng logic sau nó vẫn là cũ rích một mục tiêu, để so sánh. So sánh các cá nhân, quá trình học của anh ta với một thước đo tiêu chuẩn. Thật là nhảm nhí. Mỗi cá nhân là duy nhất và độc đáo, chẳng ai giống ai cả để mà so sánh.”
“Cách học hiện nay là nhằm tìm kiếm ra một con số để quyết định, nó thậm chí còn cố định nghĩa một người ở dạng nào: Xuất sắc, giỏi, khá, trung bình, yếu hoặc kém. Thế đấy, ví dụ tôi tạo ra một bài thi kiểu ai sẽ có đáp án trước… hệ quả tất yếu là sẽ có người thắng và kẻ thua. Và mỗi khi có kẻ thua thì nghĩa là ai đó sẽ cảm thấy buồn và tồi tệ. Hẳn nhiên rồi.” “Trẻ em cũng được động viên để tranh đấu với nhau. Học sinh giỏi được ghi nhận, được trao giải. Những người không làm tốt thì bị ăn chửi và sau đó phần lớn là bị bỏ mặc. Ai cũng nói về hòa bình nhưng chẳng ai có vẻ dạy cho trẻ em điều đó. Mọi người được giáo dục để tranh đấu, và tranh đấu là bước đầu tiên để gây ra chiến tranh.”
“Về lý thuyết, những gì nói về giáo dục là hướng tới mục tiêu phát triển con người một cách toàn diện: Giá trị con người, hợp tác, tính cộng đồng, sự đoàn kết, công bằng, tự do, hòa bình, hạnh phúc…bla bla toàn những mỹ từ cao đẹp. Nhưng thực tế về cơ bản, cơ chế của hệ thống giáo dục lại là thúc đẩy điều ngược lại: Tranh đấu, chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa phân biệt, các quy tắc luật lệ, bạo lực cảm xúc, chủ nghĩa vật chất… Bất kỳ ý tưởng tốt đẹp nào được nêu ra là đối lập với cơ chế mà giáo dục đang cố duy trì.
Nếu tôi được đào tạo từ một mô hình chỉ chuyên về mặt này hay mặt kia, giả sử là lịch sử chẳng hạn. Thì khi đi dạy, tôi chỉ chăm chăm học sinh này biết gì về lịch sử, sau khi tôi giảng về lịch sử và bắt em ấy đọc một số sách về lịch sử, và thế là tôi xong việc với em ấy. Tôi không cần quan tâm gì tới em ấy nữa. Như là em ấy có đang gặp chuyện khổ tâm gì không, xuất thân em ấy thế nào, gia đình em ấy ra sao.” “Điều dễ nhất cho các giáo viên kiểu truyền thống là cứ lặp đi lặp lại những gì anh ta vẫn dạy, hết năm này đến năm khác. Việc dạy trở thành một quá trình lặp đi lặp lại các biểu tượng. Ngày nay, tại Argentina, phần lớn trẻ em nói rằng: Ôi lại thứ hai rồi sao? Lại phải đến trường rồi sao? Nhưng đấy chưa phải điều tệ nhất, khi phần lớn các giáo viên tại Argentine cũng bày tỏ cùng một tâm trạng như vậy.
“Tôi tin giáo viên ngày nay chỉ đơn giản là một sản phẩm sinh ra từ hệ thống. Họ không sinh ra để mong muốn trở thành một thầy giáo giỏi hay tệ, chỉ đơn giản là xã hội đã bắt họ phải chọn lựa để trở thành như vậy. Làm sao mà tôi có thể dạy các em cách thể hiện cảm xúc khi mà các thầy giáo ở trường đại học chẳng có ai nói với tôi một từ về “cảm xúc”.
“Tôi không muốn đến trường, thật lãng phí thời gian. Tôi cũng không muốn cho con tôi đi học, trường học toàn tạo ra các vấn đề với chúng. Ngày nay một đứa trẻ 8 tuổi còn dành thời gian học nhiều hơn cả một sinh viên. Thật vớ vẩn, chẳng có nhiều thứ đến thế để mà học ở nhà trường. Thế là nhà trường không còn là nơi dạy học, tôi gọi nó là trung-tâm-giữ-trẻ-cả-ngày hay là bãi-nhốt-trẻ-số-lượng-lớn”
“Tôi lại nghĩ trường học giống như nhà tù, quá là tệ đi, đây là nơi mà mọi người nhốt chúng lại và thậm chí là cần cả bảo vệ để ngăn không cho chúng chạy trốn. Trường học khiến bọn trẻ ngày càng khép kín và họ lại xây những bức tường cao hơn mỗi ngày, dù cho tường bằng gạch hay bằng cây thì vẫn thế, vẫn là để cô lập và ngăn cách.”

“Tôi muốn trường học là nơi cho bọn trẻ phát triển một cách tự nhiên như chính cách chúng được sinh ra. Không phải là nơi đào tạo cho chúng sẵn sàng cho các bậc học cao hơn, cao hơn nữa: Tiểu học, trung học, đại học, thạc sĩ, tiến sĩ rồi sau đó nữa là đi làm. Rồi sao, sau nữa là làm gì?” “Thật là đơn giản khi giáo viên chỉ phải nói những câu: Trật tự, im lặng hết cho tôi, bây giờ, lật sách vở ra, bây giờ, lấy cây bút màu đỏ… Theo tôi, những thứ đó, phương pháp đó là để đào tạo… chó, chứ không phải cách giáo dục con người.”
John Taylor Gatto nói: “Vấn đề của chúng ta là hiểu rằng, việc dạy dỗ một cách ép buộc xuất phát từ một thực tế đáng hổ thẹn là trên phương diện con người, những gì là sai, thì trên phương diện cơ chế, lại là đúng.”

Nguồn gốc của trường học và giáo dục

Từ nhu cầu của những nhà Chuyên Quyền
Một điều ít ai biết tới về giáo dục phổ thông đại chúng và bắt buộc như hiện nay, được tạo ra từ một thời điểm cụ thể trong lịch sử. Trước đó, kiểu giáo dục này không tồn tại. Giáo dục ngàn xưa rất khác với giáo dục ngày nay chúng ta được biết. Ví dụ, tại thành Athen – Hy Lạp cổ đại không hề có trường học. Những học viện đầu tiên của Plato là nơi để thảo luận, chia sẻ ý kiến, tự do thí nghiệm và khám phá. Lúc bấy giờ, giáo dục bắt buộc chỉ dành cho nô lệ. Mặt khác, giáo dục tại thành Sparta thì giống như là huấn luyện quân đội nhiều hơn. Khi ấy, chính quyền sẽ tống cổ những kẻ không đạt một mức tiêu chuẩn được định sẵn vào những lớp học bắt buộc, là những nơi bài học và quy tắc xử sự được dạy qua tra tấn và nhục hình. Trong quá khứ, giáo dục là do các nhà thờ công giáo chi phối, ít nhất là tại các nước công giáo phương tây. Và điều này cũng mới chỉ có từ thế kỷ 18, tại thời điểm lịch sử mà người ta gọi là “Khai Sáng Chuyên Quyền” – nơi tạo ra các ý tưởng về giáo dục phổ thông đại chúng, miễn phí và bắt buộc.
Trường học như chúng ta được biết tới nay được khai sinh từ cuối thế kỷ 18, đầu 19 tại Prussia (Đức). Nhằm chống các cuộc nổi dậy tương tự đã xảy ra ở Pháp, Hoàng Gia đề bạt một số nhân vật được cho là “Người khai sáng” để làm hài lòng đám đông muốn nổi dậy, nhưng vẫn duy trì chế độ Chuyên Quyền. Các trường học tại Prussia dựa trên sự phân biệt gắt gao các tầng lớp và giai cấp. Cơ chế của nó, thừa hưởng từ mô hình của người Spartan, đề cao kỷ luật, sự tuân lời và chế độ độc đoán. Mục đích của tầng lớp chuyên quyền đầy học thức này là gì? Là tạo ra một đám dân chúng biết nghe lời và dễ bảo để có thể huấn luyện phục vụ cho chiến tranh sẽ xảy ra trong thời kỳ lịch sử lúc bấy giờ khi hàng loạt các quốc gia mới nổi lên (giống các quân cờ thế mạng). Hoàng hậu Cartherine của Nga, đã gọi mời các nhà thông thái tới từ Pháp, kêu gọi họ tạo ra một hệ thống giáo dục và Diderot, một trong những người nổi tiếng nhất, đã tạo ra một đề án, không phải nhằm tạo ra những người dân thông minh hơn, mà là những dân chúng biết vâng lời và phục vụ cho chính quyền.
Tin tức về mô hình giáo dục thành công này lan truyền cực nhanh, đến mức chỉ trong vài năm, các nhà giáo dục ở Châu Mỹ và Châu Âu đã đến học ở Prussia để lấy bằng về áp dụng cho nước mình. Dần dà, mô hình này trở thành chung cho cả thế giới, rất rất nhiều nước đã bắt chước mô hình giáo dục “hiện đại” này để phổ cập cho tất cả dân chúng. Giương cao ngọn cờ của “sự bình đẳng”, trong khi bản chất hệ thống về cơ bản là sự Chuyên Quyền nhằm duy trì quyền lợi cho tầng lớp Quý tộc và phân chia giai cấp ngày một rõ nét hơn. Đấy chính là sự ra đời của giáo dục phổ thông.
“Nên nhớ là chính Napoleon, đã thề thốt là không đội trời chung với Chuyên Quyền, nhưng rồi ít lâu sau, cũng đã làm điều tương tự. Ông ta nói thế này, không thêm thắt một từ: “Tôi muốn tạo ra một hệ thống giáo dục mà từ đó định hướng cho suy nghĩ của dân chúng Pháp.” Bạn hiểu chứ? Ông ta quả thực đã làm như thế, và nó vẫn tiếp tục suy trì cho tới ngày nay, cho dù chúng ta có ý thức được điều này hay không.”
Từ nhu cầu của nền kinh tế sản xuất hàng hóa
Trường học được tạo ra trong một thế giới bị chi phối bởi nền kinh tế công nghiệp, bởi thế phương châm của nó là tạo ra những sản phẩm đạt hiệu quả cao nhất, với ít chi phí và công sức nhất có thể. Sử dụng các công thức khoa học và quy luật thông thường, trường học chính là giải pháp hoàn hảo để tạo ra nguồn nhân công phục vụ cho các ngành công nghiệp. Giống hệt những nhà tài phiệt công nghiệp của thế kỷ 19. Ai là người cung cấp tài chính cho hệ thống giáo dục bắt buộc, ai giúp sức cho những tổ chức giáo dục? “Tôi phải làm gì cho con cái của những công nhân, để chúng về sau cũng làm việc cho tôi? Làm sao chúng ta có thể dạy họ đọc, dạy họ trở nên những công nhân thông minh?”
Và nền giáo dục đó vẫn duy trì tới ngày nay, một phương tiện để tạo ra những công nhân có ích và những công cụ hữu dụng để chắc chắn rằng nền kinh tế hàng hóa vẫn tiếp diễn theo quy chuẩn cũ. Điều đó đồng nghĩa với việc duy trì cơ cấu xã hội hiện có. Ngoài ra, trường học còn được “chắp cánh” với những nghiên cứu về kiểm soát hành vi, những lời hứa hẹn về một xã hội không tưởng và thậm chí là các học thuyết về tầng lớp xã hội thượng đẳng. Chẳng ngạc nhiên khi các quốc gia đầu tiên áp dụng hệ thống giáo dục như Prussia hay gần giống vậy, gần như cùng lúc, cuối cùng đều trở thành, nguồn cơn của chủ nghĩa Quốc Xã và Bài Ngoại.
Dây chuyền sản xuất hàng loạt trong công nghiệp là một ví dụ hoàn hảo cho giáo dục. Giáo dục áp lên một đứa trẻ có thể được so sánh với quá trình sản xuất một sản phẩm. Vì thế nó đòi hỏi các bước cụ thể và bắt buộc, theo một trình tự cụ thể. Gom nhóm trẻ nhỏ theo độ tuổi và các cấp học. Và trong từng giai đoạn sẽ nhồi những môn học cụ thể. Nội dung nhồi được thiết lập kĩ lưỡng bởi các chuyên gia. Nhưng vấn đề ở chỗ, các môn học, như môn Sinh học, không được thiết lập bởi các nhà sinh vật, cũng không phải bởi những người giáo dục trực tiếp, mà chính hệ thống quan lại, tay sai thời đó – những kẻ hoàn toàn không biết dạy và học là thế nào.
Trong cái dây chuyền như thế, một người sẽ phụ trách từng phần nhỏ của quá trình, mà vốn dĩ không đủ thẩm quyền cũng như khả năng để biết toàn bộ cơ chế hoặc những người tham gia vào quá trình đó. Mỗi giáo viên sẽ dạy từng cấp, từng môn cho học sinh, khoảng 30-40 học sinh mỗi lớp đến độ mà toàn bộ quá trình biến thành hoàn toàn máy móc. Giáo dục hiện nay là trọng tâm của những người cầm quyền, học sinh đến trường, giáo viên lên lớp, học sinh về nhà, giáo viên về nhà. Mỗi ngày cái vòng lặp đều lặp lại i như thế. Giáo viên là một bộ phận công chức của hệ thống lãnh đạo, và họ phải nghe theo lời chủ: “Anh phải dạy cái này, cái nọ cái kia, và theo cách này.” Quá nhiều giáo viên và học sinh bị bóc lột sức lao động đến mệt lử và chẳng còn mấy thời gian để chú ý riêng tới từng học sinh.
Vì lẽ dĩ nhiên họ không thể mong tất cả học sinh cùng làm một việc vào cùng một thời điểm được. Cái dây chuyền sản xuất công nghiệp này cũng như các trường học và các lực lượng vũ trang của nhiều quốc gia và văn hóa phương Tây. Cho tới vài thập kỷ trước, trường học giống như trại lính và nhà thương điên vậy. Thậm chí giờ nghỉ cũng bắt đầu và kết thúc bằng một hồi chuông tự động, chứ chẳng có một âm thanh con người, nhằm đào tạo trẻ nhỏ tự huấn luyện, từng chút từng chút một, đứng thành hàng, theo một hàng gạch nhất định, lần lượt theo sau lưng người khác, với quy chuẩn từ thấp đến cao.
Suốt thế kỷ qua, chúng ta đã tạo ra những trường học cứ như thể chúng là nhà tù hoặc xưởng sản xuất, đề cao sự vâng lời với luật lệ và quy định xã hội. Trường học đã được hình dung như là nơi sản xuất những công dân vâng lời, những công nhân có ích và những kẻ tiêu dùng hàng hóa đều đặn, nơi là con người dần biến thành những con số, điểm số và số liệu. Yêu cầu và sức ép của hệ thống cuối cùng làm giảm hoặc làm mất nhân tính của tất cả mọi người, bởi vì nó bao trùm lên toàn bộ thầy cô, hiệu trưởng và các nhà quản lý giáo dục. Tất cả bị biến thành một đám người đồng nhất với những tư tưởng đồng nhất, nhằm tạo ra những kết quả tương tự nhau.
“Tất cả chúng ta phải biết cùng một thứ. Mặc cho thực tế là chúng ta, những người lớn, đều chẳng thể biết cùng một thứ, cũng chẳng làm cùng một việc. Và ở trường, thì ai cũng phải làm cùng một thứ, và phải làm thật tốt nữa. Vì thế, trường học không thể có khả năng thỏa mãn những nhu cầu của từng cá nhân, bởi vì trường học là đào tạo, và chúng là các trung tâm đào tạo, việc của họ là thế. Người nào không chịu học, sẽ bị tụt lại phía sau. Nó là như thế đấy.
Điều này ngụ ý rằng, hệ thống giáo dục là một hệ thống phân chia và loại trừ giai cấp: Nó lựa chọn một phần vào đại học để họ trở thành một phần của tầng lớp quý tộc, để lãnh đạo các công ty và quá trình sản xuất của cải, để đứng đầu các hệ thống kinh tế và truyền thông… Và còn những người khác, những người không thích ứng được với trường học, sẽ “lĩnh án” phải làm những công việc bấp bênh hơn bởi họ không có bằng cấp để làm những công việc khác. Hệ thống và các chính phủ, đáng tiếc, chẳng quan tâm đến điều này. Thực chất, họ không thèm quan tâm tới con người như là con người, như là các cá nhân. Và với những tiêu chí này, các hệ thống giáo dục khác, nhằm tìm kiếm cho những mục đích khác, phải bị cấm.”
Sự thực là cốt lõi của mô hình trường học theo kiểu Prussian được xem là trung tâm của hệ thống giáo dục ngày nay. Các bài kiểm tra theo tiêu chuẩn, chia thành độ tuổi, các lớp học bắt buộc, chương trình học xa rời thực tế, hệ thống đánh giá xếp loại, áp lực lên giáo viên và học sinh, cơ chế thưởng phạt, thời khóa biểu chặt chẽ, tách rời và khép kín khỏi cộng đồng, hệ thống học bậc thang… tất cả những điều đó vẫn là một phần không thể thiếu của trường học. Ngay cả ở thế kỷ 21 này.
Trường học không thể bị đánh đồng với giáo dục. Trường học cùng lắm chỉ là một tấm bản đồ cũ kỹ về kiến thức, và giáo dục là vùng đất mà ở đó, việc học thực sự đang xảy ra.

Nguồn: http://www.triethocduongpho.com/2014/07/14/nen-giao-duc-cam-doan-mo-hinh-giao-duc-nha-tu-va-nhoi-so-phan-1/ 

Thứ Bảy, 19 tháng 7, 2014

Những mẩu chuyển vui

1. Mẹ trang điểm đi làm:
Vi: Mẹ ơi môi con khô (để mẹ đánh son môi cho đó mà)
Mẹ: Con chưa dùng son môi được, mai mốt con lớn mới dùng được. 
Vi: Ba nói con lớn rồi mà.
Mẹ: Ba nói con lớn là vì giờ con đã lớn so với hồi con mới sinh. Khi nào con lớn bằng mẹ, mẹ mua son môi cho con nhé.
Vi (nhảy tưng tưng): con nhảy để lớn bằng mẹ nè.

2. 
Vi: Mẹ ơi mai ghé công viên LTR mua bóng nha.
Mẹ: Mai thứ 5 mình chưa đi công viên được.
Vi: Nhưng ba hứa mà. Ba hứa kiếm bóng cho con.
Mẹ: Ba hứa hồi nào con?
Vi: Ba hứa hôm đi về nhà.
Mẹ: Hôm con đi về Biên Hòa với ba hả?
Vi: Không phải. Biên Hòa là nhà ông nội bà nội. Hôm đi về nhà mình cơ. 
(Thực tế là ba hứa cách đó 4,5 ngày rồi ... nhưng nàng vẫn nhớ).

Thứ Ba, 10 tháng 6, 2014

The hundred languages


(Mình tìm thấy video và bài thơ này tại: http://play-basedclassroom.blogspot.com/2013/03/reggio-emilia-hundred-languages-of.html)

Chủ Nhật, 8 tháng 6, 2014

Viết trở lại

Nhanh thật!

Mới đó mà nàng đã gần 3 tuổi. Mới hôm nào giật mình khi thấy nàng vịn kệ ti vi đứng lên (xong ngã cái rầm) mà nay nàng đã chạy rần rần, biết cầm ghế ra gần tường để đứng lên bật công tắc quạt. Rồi sẽ chẳng mấy chốc nàng vỗ cánh bay xa!

Mình sẽ viết blog trở lại, cho nàng thì ít mà cho mình thì nhiều. Vì mình biết trí nhớ mình mau bay lắm. Hôm nay mình có thể nhớ kỹ lắm, như là chuyện động trời làm sao có thể quên, nhưng chỉ 1 thời gian sau đó, chuyện động trời cũng mờ phai. Nên mình cần dành thời gian để ghi lại, để khi thấy tất cả đã nhòa trong trí nhớ, mình sẽ có cái làm cứu cánh. 

Tuần này cũng sẽ bắt đầu nhiều điều mới và rõ là phải bắt tay vào làm chứ đừng nghĩ rồi quên, rồi khi nhớ lại làm 1 tí, rồi lại thôi.

Và note lại câu này cho mình ... kể từ tuần này!




198 danh tác kinh điển có ảnh hưởng đến tuổi thơ

"Hướng trẻ đọc sách hay là niềm hy vọng đáng tin cậy nhất cho tương lai" (Isaac Rasheris Singer)

Giai đoạn khởi đầu của cuộc đời, tâm hồn con trẻ sáng trong như trang giấy trắng, đây cũng là giai đoạn hình thành nhân cách, bắt đầu học hỏi và khám phá cuộc sống của trẻ.


Những cuốn sách hay, giàu ý nghĩa sẽ là kim chỉ nam định hướng cho sự phát triển trí tuệ và tình cảm của trẻ. Chính vì vậy, việc chọn lựa loại sách kinh điển giàu tính nhân văn cho trẻ đọc là hết sức đúng đắn và cần thiết.

"100 danh tác kinh điển có ảnh hưởng đến tuổi thơ" giới thiệu và tóm lược khái quát nội dung, tư tưởng về những tác phẩm có ảnh hưởng đến bao thế hệ lớp trẻ và được thanh thiếu niên yêu thích từ kho tàng văn học thế giới, với mong muốn bồi đắp những tình cảm cao quý, cũng như giúp trẻ hiểu rõ giá trị của tình thương yêu, lòng bác ái; đồng thời gợi mở cho các em làm thế nào có thể nhận biết, phân biệt phải, trái, thiện, ác để sớm định hình nhân cách cho tương lai.

Hơ hơ, rất tiếc là về mặt toán học chỉ thấy cuốn sách điểm 70 danh tác, chưa đủ 100. Các cháu bé chú ý nhé, phải học toán học cho tốt, không kẻ xấu nó lừa cho :))


1. Alice lạc vào xứ sở thần tiên (Lewis Carroll): Một câu chuyện cổ tích đi cùng sự trưởng thành của từng đứa trẻ
2. Ngụ ngôn Aesop (Hy Lạp cổ): Một bộ truyện ngụ ngôn kinh điển
3. Chuyện về cáo Renart (Pháp): Truyện thơ dài dân gian vĩ đại của Pháp
4. Truyện cổ Grimm (Anh em Grimm người Đức): Lá cờ đầu trên thành trì truyện cổ tích
5. Tập truyện cổ Andersen (Hans Christian Andersen): Tập truyện cổ tích có sức hấp dẫn lâu dài
6. Ghi chép về côn trùng (Jean Henri Fabre): Ca ngợi tinh thần hy sinh vì sự nghiệp nghiên cứu côn trùng
7. Con dế ở quảng trường thời đại (George Selden): Một câu chuyện cổ tích khiến người ta suy ngẫm
8. Những vụ phá án của thám tử Sherlock Holmes (Arthur Conan Doyle): Bộ tiểu thuyết trinh thám nổi tiếng thế giới
9. Tuyển tập truyện của O' Henry: Tác phẩm "cười ra nước mắt"
10. Biến dạng (Franz Kafka): Vạch trần và tố cáo sự thay đổi nhân tính
11. Toto-chan, cô bé bên cửa sổ (Tetsuko Kuroyanagi): Tuổi thơ tìm vầng dương chói lọi
12. Thần thoại Hy Lạp (Hy Lạp): Viên đá quý của văn minh Hy Lạp cổ đại gồm 2 bộ sử thi Iliad và Odyssey
13. Sử thi Homer (Hy Lạp): Viên đá quý vắt ngang nền Văn học ngàn xưa
14. Kinh Thánh: Tác phẩm kinh điển của đạo Cơ Đốc, gồm cả Cựu Ước và Tân Ước
15. Thần khúc (Dante): Bài thơ vĩ đại của thời kỳ Trung Cổ
16. Chuyện về người khổng lồ (Francois Rabelais): Một bộ tiểu thuyết hài hước hoang đường
17. Lái buôn thành Venice (Shakespeare): Hình tượng một kẻ bủn xỉn, tham lam
18. Don Quixote (Miguel Cervantes Saavedra): Một bộ tiểu thuyết hiệp sĩ phản tiểu thuyết hiệp sĩ
19. Kẻ đạo đức giả (Moliere): Vạch trần bộ mặt chân thực của những kẻ giả dối
20. Thiên đường đã mất (John Milton): Cuộc đọ sức của thiên thần và ác quỷ
21. Robinson Crusoe (Daniel Defoe): Một người phiêu lưu không biết thất bại
22. Những cuộc phiêu lưu của Gulliver (Jonathan Swift): Một bộ tiểu thuyết châm biếm xuất sắc
23. Xưng tội (Jean Jacques Rousseau): "Xưng tội" và "tố cáo"
24. Tuyển tập thơ Shelley (Percy Bysshe Shelley): Ca ngợi và tán dương lý tưởng, tự do
25. Nhà thờ đức bà Paris (Victor Hugo): Một vũ đài lớn thể hiện cái đẹp, xấu, thiện, ác
26. Eugenie Grandet (Honore de Balzac): Một sự khắc họa thành công về hình tượng kẻ nô lệ đồng tiền
27. Lão Goriot (Honore de Balzac): Vạch trần tội ác của chủ nghĩa tư bản
28. Quan thanh tra (Nikolai Vasilevich Gogol): Hài kịch châm biếm bọn quan liêu và lừa đảo
29. Oliver Twist (Charles Dickens): Quá trình phấn đấu gian khổ của một cậu bé mồ côi
30. Ba chàng lính ngự lâm (Alexander Dumas cha): Câu truyện truyền kỳ về cây súng
31. Nước Đức - chuyện cổ tích mùa đông (Heinrich Heine): Một tập thơ châm biếm xuất sắc
32. Jane Eyre (Charlotte Bronte): Tiểu thuyết kinh điển của phụ nữ hiện đại
33. David Copperfied (Charles Dickens): Huyền thoại từ một đứa trẻ mồ côi cha đến khi trở thành nhà văn lớn
34. Túp lều bác Tôm (Harriet Beecher Stowe): Câu chuyện đẫm máu và nước mắt của một nô lệ da đen
35. Cá voi trắng (Herman Melville): Cuộc vật lộn trên biển đầy xúc động
36. Tập thơ Lá cỏ (Walt Whitman): Tác phẩm thi ca đầy tinh thần dân chủ
37. Những người khốn khổ (Victor Hugo): Tác phẩm tiêu biểu của dòng văn học chủ nghĩa lãng mạn Pháp
38. Chiến tranh và Hòa bình (Lev Tolstoi): Một tác phẩm văn học đồ sộ
39. Tuyển tập thơ Tagore (Tagore): Bài hát của một nhà thơ phương Đông vĩ đại
40. Hai vạn dặm dưới đáy biển (Jules Verne): Cuộc phiêu lưu thần kỳ dưới đáy biển
41. 80 ngày vòng quanh thế giới (Jules Verne): Tác phẩm xuất sắc trong thể loại tiểu thuyết khoa học giả tưởng
42. Cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer (Mark Twain): Một quyển tiểu thuyết dành cho thiếu nhi đầy hương vị cuộc sống
43. Heidi (Johanna Spyri): Thể hiện thế giới trẻ thơ thuần khiết đẹp đẽ.
44. Tuyển tập truyện ngắn và vừa của Maupassant (Guy de Maupassant): Những mẩu chuyện của chủ nghĩa hiện thực
45. Đảo dấu vàng (Robert Louis Stevenson): Câu chuyện phiêu lưu mạo hiểm đầy cảm động
46. Chú bé người gỗ Pinocchio (Carlo Collodi): Câu chuyện cổ tích kinh điển nổi tiếng
47. Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn (Mark Twain): Câu chuyện thiếu nhi đầy nét hài hước thú vị
48. Những tấm lòng cao cả (Edemondo De Amicis): Câu chuyện tình yêu cảm động lòng người
49. Tiểu thuyết Chekhov (Anton Pavlovich Chekhov): Tiểu thuyết châm biếm hóm hỉnh đặc sắc
50. Phù thủy xứ OZ (Layman Frank Baum): Một câu chuyện cổ tích thần kỳ hấp dẫn
51. Chuyện đời tôi (Helen Keller): Quyển tự truyện của một phụ nữ tàn tật nhưng có ý chí kiên cường
52. Chuyện danh nhân (nhà văn Romain Rolland): Truyện ký anh hùng về Beethoven, Michelangelo, Lev Tolstoi
53. Jean Christophe (Romain Rolland): Tiểu thuyết vĩ đại nhất thế kỷ XX
54. Tôi là mèo (Natsume Soseki): Thế gian trong mắt một con mèo
55. Tình yêu cuộc sống (Jack London): Ngợi ca cuộc sống
56. Người mẹ (Maxim Gorki): Tác phẩm nền tảng của dòng văn học chủ nghĩa xã hội
57. Những cuộc phiêu lưu kỳ thú của cậu bé Nils (Selma Lagerlof): Truyện cổ tích phiêu lưu đầy sự thần kỳ và ảo tưởng
58. Khu vườn bí mật (Frances Hodgson Burnett): "Khu vườn thần kỳ" khiến cuộc sống trở nên đẹp đẽ
59. Thời thơ ấu (Maxim Gorki): Câu chuyện về thời thơ ấu vất vả
60. Nhớ lại năm tháng đã qua (Marcel Proust): Người đi tiên phong của tiểu thuyết dòng ý thức
61. Anne ở Green Gables (Lucy Maud Montgomery): Một bộ tiểu thuyết về quá trình trưởng thành của cô bé Anne đầy lôi cuốn
62. Những cuộc phiêu lưu của anh lính Schwejk (Jaroslaw Hasek): Câu chuyện về một "anh lính" vừa thông minh vừa ngốc nghếch
63. Sông Đông êm đềm (Mikail Aleksandrovich Sholokhov):  Tác phẩm mang tính sử thi xuất sắc
----> Loại bỏ --- Thép đã tôi thế đấy (Nikolai Ostrovsky): Bài ca phấn đấu của một cuộc đời tươi đẹp
64. Hoàng tử bé (Antoine de Saint Exupery): Tiếng gọi tình yêu của một tâm hồn cô độc
65. Bắt trẻ đồng xanh (Jerome David Salinger): Tác phẩm kinh điển ảnh hưởng đến nhiều lớp thanh niên Mỹ
66. Ông già và biển cả (Ernest Hemingway): Bài ca anh hùng bi tráng
67. Mạng nhện của Charlotte (Elwyn Brooks White): Câu chuyện cổ tích cảm động
68. Không gia đình (Hector Malot): Quá trình trưởng thành gian khổ của một cậu bé mồ côi
69. Quân luật thứ 22 (Joseph Heller): Tác phẩm kinh điển hài hước châm biếm
-----------------------
(Nhân dân FB bổ sung thêm)

70. Thế giới của Sophie (Jostein Gaarder)
71. Con cái chúng ta giỏi thật (Azit Nexin)
72. Giamilia, Truyện núi đồi và thảo nguyên (Chingniz Aitmatov)
73. Cánh buồm đỏ thắm (Aleksandr Grin)
74. Anna Karenina (Lev Nikolayevich Tolstoy)
75. Trăm năm cô đơn (Gabriel Garcia Marquez)
76. Con đường đau khổ (Aleksey Nikolayevich Tolstoy)
77. Tội ác và trừng phạt (Fyodor Mikhailovich Dostoevsky)
78. Tu viện thành Parma (Stendhal)
79. Trên sa mạc và trong rừng thẳm (Henryk Sienkiewicz)
80. Dế mèn phiêu lưu ký (Tô Hoài)
81. Pippi tất dài (Astrid Lindgren)
82. Nghìn lẻ một đêm (Cổ tích Ả rập)
83. Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam (Nguyễn Đổng Chi)
84. Bông hồng vàng và Bình Minh Mưa (Pauxtôpxki)
85. Con bim trắng tai đen (G. Troieponxki)
86. Nhà giả kim (Paulo Coelho): Đây là một câu chuyện thúc giục độc giả theo đuổi giấc mơ của mình qua một chàng trai trẻ khao khát cháy bỏng đi chu du để đạt mục đích là tìm kho báu của mình...
87. Nhóc Nicolas (René Goscinny)
88. Harry Potter (J. K. Rowling)
89. Chúa tể của những chiếc nhẫn (J. R. R. Tolkien)
90. Biên niên sử Narnia (C.S Lewis)
91. Mẹ vắng nhà (Nguyễn Thi)
92. Đất rừng phương Nam (Đoàn Giỏi)
93. Tây Du Ký (Ngô Thừa Ân)
94. Anh em nhà Karamazov (Dostoyevsky)
95. Bức chân dung (Nikolai Vasilievich Gogol )
96. Một ngày dài hơn thế kỷ (Chinghiz Aitmatov)
97. Đoạn đầu đài (Chinghiz Aitmatov)
98. Bố già (Mario Puzo)
99. Bác sĩ Zhivago (Boris Leonidovich Pasternak)
100. Tiếng gọi nơi hoang dã (Jack London)
101. Đồi gió hú (Emily Brontë)
102. Hội chợ phù hoa (William Makepeace Thackeray)
103. Ruồi trâu (Ethel Lilian Voynich)
104. Đèn không hắt bóng (Watanabe Dzunichi)
105. Papillon người tù khổ sai (Henry Charriere)
106. Thằng gù nhà thờ Đức Bà (Victor Hugo)
107. Bá tước Moongto Crixto (Alexandre Dumas cha)
108. Tiếng chim hót trong bụi mận gai (Colleen McCulough)
109. Cuốn theo chiều gió (Margaret Mitchell)
110. Con hủi (Helena Mniszek)
111. AQ chính truyện (Lỗ Tấn)
112. Cuộc đời của Pi (Yann Martel): về cuộc hành trình của cậu bé Pi cùng một lúc say mê tôn giáo cả đạo Hindu, đạo Hồi và đạo Thiên Chúa.
113. Nam tước trên cây (Italo Calvino): câu chuyện về cậu bé Cosimo Mưa Giông xứ Rondeau, khi mới 12 tuổi đã từ chối món ốc sên do bà chị u sầu Battista chuẩn bị
114. Chúa ruồi (William Golding): về bản năng của con người, về thiện - ác, liệu có phải nhân chi sơ tính bản thiện?
115. Triệu phú khu ổ chuột (Vikas Swarup): khơi dậy trắc ẩn trong mỗi con người, trong cuộc sống khốn cùng nơi ngõ ngách của những khu ổ chuột tồi tàn
116. Sách của bạn tôi (Anatole France): tự truyện về chú bé Pierre với những mối quan hệ tuổi thơ, những kỷ niệm với bạn đồng trang lứa, với giáo viên và trường lớp
117. Chuyện con mèo dạy hải âu bay (Luis Sepúlveda): câu chuyện đầy cuốn hút về lòng tận tâm và tầm quan trọng của việc giữ lời hứa
118. Cédric (Laudec & Cauvin): Những mẩu truyện xoay quanh cuộc sống thường nhật đầy ắp những điều khôi hài, thú vị, những sự cố nho nhỏ và cả những triết lý riêng của cậu bé Cédric.
119. Nàng công chúa nhỏ (Frances Hodgson Burnett): Câu chuyện hấp dẫn về bé Sara Crewe là một truyện cổ tích hiện đại về lòng nhân từ và đức tin vào những điều tốt đẹp,
120. William (Richmal Crompton): Bộ truyện  vô cùng hấp dẫn về cậu bé William nghịch ngợm
121. Manolito (Elvira Lindon): Bộ truyện thú vị, quyến rũ với sự hài hước con trẻ về cậu nhóc Manolito. Cậu nhóc yêu cuộc sống của mình và sẵn sàng kể cho mọi người nghe mọi điều về nó...
122. Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ (Nguyễn Nhật Ánh): Nhà văn mời người đọc lên chuyến tàu quay ngược trở lại thăm tuổi thơ và tình bạn dễ thương của 4 bạn nhỏ. Những trò chơi dễ thương thời bé, tính cách thật thà, thẳng thắn một cách thông minh và dại dột, những ước mơ tự do trong lòng…
123. Chuyện ngày xưa: một trăm cổ tích (Tô Hoài): khối chuyện mang diện mạo và tâm hồn con người, trải ngàn vạn năm còn ở lại với hôm nay, chia thành 3 phần: 58 truyện về các sự tích, loài vật; 22 truyện về các nhân vật, truyền thuyết; và 21 truyện đặc sắc của các dân tộc thiểu số.
124. Candide - Chàng ngây thơ (Voltaire): tác phẩm văn chương giàu tính triết học nhất mà Voltaire từng viết,  nhân vật chính là một chàng trai ngây thơ đến thuần khiết.
125. Momo (Michael Ende): Câu chuyện kỳ lạ về những kẻ ăn cắp thời gian và một cô bé giành lại được cho con người thời gian đã mất
126. Anne tóc đỏ dưới chái nhà xanh (L.M. Montgomery): Truyện về cô bé Anne Shirley quyến rũ và vui nhộn truyền cảm hứng về tình yêu cuộc sống mãnh liệt cho những người thân yêu sống quanh cô.
127. Căn phòng riêng (Virginia Woolf): Trong nỗ lực tìm kiếm nguyên nhân và giải pháp cho vấn đề bình đẳng nam nữ trên mọi lĩnh vực, tác giả đã nêu một luận điểm nổi tiếng, bằng cách nghĩ đẫm chất hiện thực: “Nếu viết văn, người đàn bà phải có tiền và một căn phòng riêng”. Khi đó họ có thể nhìn cuộc sống bằng đôi mắt của chính họ, nhìn cuộc sống như là cuộc sống và nhìn sự vật như là sự vật...
128. Ngài Dalloway (Virginia Woolf)
129. Ngọn hải đăng (Virginia Woolf)
130. Suối nguồn (Ayn Rand)
131. Nghệ nhân và Margarita (Mikhail Bulgacov)
132. Báu vật của đời (Mạc Ngôn)
133. Cao lương đỏ (Mạc Ngôn)
134. Đàn hương hình (Mạc Ngôn)
135. Cây tỏi nổi giận (Mạc Ngôn)
136. Tuổi thơ dữ dội (Phùng Quán)
137. Bà Bovary (Gustave Flaubert)
138. 1984 (George Orwell)
139. Trại súc vật (George Orwell)
140. Absalom, Absalom! (William Faulkner)
141. Thương – Beloved (Toni Morrison)
142. Truyện kể ở Canterbury (Geoffrey Chaucer)
143. Lâu đài (Franz Kafka)
144. Phiên tòa (Franz Kafka)
145. Tuyển tập truyện ngắn (Franz Kafka)
146. Kafka bên bờ biển (Haruki Murakami)
147. Rừng Nauy (Haruki Murakami)
148. Truyện toàn tập (Edgar Allan Poe)
149. Tự bạch của Zeno (Italo Svevo)
150. Những linh hồn chết (Nikolai Gogol)
151. Cái chết của Ivan Ilyich và những truyện khác (Leo Tolstoy)
152. Câu chuyện 10 ngày (Giovanni Boccaccio)
153. Nhật ký người điên và những truyện khác (Lỗ Tấn)
154. Faust (Johann Wolfgang von Goethe)
155. Những kỳ vọng lớn lao (Charles Dickens)
156. Khúc nhạc Noel (Charles Dickens)
157. Hamlet (William Shakespeare)
158. Vua Lear (William Shakespeare)
159. Othello (William Shakespeare)
160. Gã khờ (Fyodor M Dostoyevsky)
161. Lũ người quỷ ám (Fyodor M Dostoyevsky)
162. Kiêu hãnh và định kiến (Jane Austen)
163. Thuyết phục (Jane Austen)
164. Emma (Jane Austen)
165. Lolita (Vladimir Nabokov)
166. Tình yêu thời thổ tả (Gabriel Garcia Marquez)
167. Đi tìm thời gian đã mất (Marcel Proust)
168. Đỏ và Đen (Stendhal)
169. Gatsby vĩ đại (F Scott Fitzgerald)
170. Bá tước Monte Cristo (Alexandre Dumas)
171. Sử thi Mahabharata (Ấn Độ)
172. Mùa di trú đến phương Bắc (Tayeb Salih)
173. Những đứa con trai và những người tình (DH Lawrence)
174. Âm thanh và Cuồng nộ (William Faulkner)
175. Cái trống thiếc (Gunter Grass)
176. Alexis Zorba - con người hoan lạc (Nikos Kazantzakis)
177. Giết con chim nhại (Harper Lee)
178. Hồi ức của một Geisha (Arthur Golden)
179. Gấu Pooh xinh xắn (AA Milne)
180. Gió qua rặng liễu (Kenneth Grahame)
181. Xứ cát (Frank Herbert)
182. Ngựa ô yêu dấu (Anna Sewell)
183. Matilda cô bé nghịch ngợm (Roald Dahl)
184. Nhật ký tiểu thư Jones (Helen Fielding)
185. Ulysses (James Joyce)
186. Chúa trời của những chuyện vụn vặt (Arundhati Roy)
187. Con gái yêu (Jacqueline Wilson)
188. Nhật ký công chúa (Meg Cabot)
189. Casanova ở Bolzano (Márai Sándor): câu chuyện về một anh chàng phiêu lưu và phong tình
190. Thủy Hử (Thi Nại Am)
191. Hồng Lâu Mộng (Tào Tuyết Cần)
192. Tam Quốc Diễn Nghĩa (La Quán Trung)
193. Cô gái Đồ Long  (Kim Dung)
194. Anh hùng xạ điêu (Kim Dung)
195. Thần điêu đại hiệp (Kim Dung)
196. Tiếu ngạo giang hồ (Kim Dung)
197. Ai van hô (Ivanhoe) (Walter Scott)
198. Peter Pan (J. M Barrie): về một cậu bé biết bay và từ chối không chịu lớn lên.

Cảm ơn nhân dân FB :))


(Sưu tầm từ: https://www.facebook.com/notes/b%C3%B9i-quang-minh/198-danh-t%C3%A1c-kinh-%C4%91i%E1%BB%83n-c%C3%B3-%E1%BA%A3nh-h%C6%B0%E1%BB%9Fng-%C4%91%E1%BA%BFn-tu%E1%BB%95i-th%C6%A1/10150473032962700)